Đọc một luận án (tiếp): Các đặc điểm chính của ngành đóng tàu.

Các đặc điểm chính của ngành công nghiệp đóng tàu.

Ngành công nghiệp tàu thủy gồm: đóng tàu, sửa chữa tàu và công nghiệp phụ trợ. Những điều dưới đây nói về các đặc điểm nội tại chính (key features) của ngành đóng tàu. Có 5 đặc điểm chính:

1- Phát triển theo chu kỳ

Nửa sau của thế kỷ 20, ngành đóng tàu đã có ba đỉnh cao phát triển.

Đỉnh thứ nhất vào khoảng 1944 do đại chiến thế giới II, nhu cầu tàu vận tải và tàu chiến tăng mạnh. Đỉnh thứ hai vào khoảng năm 1975 do việc đóng cửa kênh đào Suez, làm tăng mạnh nhu cầu tàu chở dầu cỡ lớn. Đỉnh thứ ba xuất hiện khoảng năm 2000 do: a/kinh tế thế giới phát triển mạnh, đặc biệt là kinh tế Trung quốc; b/nhu cầu thay thế tàu cũ tuân thủ công ước IMO về tuổi thọ tàu, c/nhu cầu thay tàu dầu vỏ đơn bằng tàu vỏ kép cũng do IMO quy định.

Biểu đồ dưới đây biểu diễn số tàu đóng được hàng năm cho thấy rõ ba đỉnh cao phát triển đó. Lưu ý là đỉnh thứ ba đặc biệt cao hơn các đỉnh trước nhiều, điều này góp phần lý giải tại sao Vinashin lại có thể ký được nhiều hợp đồng đến thế.

Với mức cầu vừa qua cao đột xuất như vậy, khi khủng hoảng kinh tế bắt đầu có tác động, “số hợp đồng đóng mới ký được năm 2009 giảm 92% so với năm 2007” năng lực đóng tàu toàn thế giới dư thừa cực kỳ nhiều.

2-Đầu tư lớn

Trong ngành đóng tàu, cần đầu tư vào hạ tầng và máy móc thiết bị như ụ, cần cẩu, cầu tàu, … Ngoài đầu tư ban đầu, hàng năm thường xuyên cần vốn để tăng năng lực đóng tàu và tăng năng suất. Bảng dưới đây cho thấy tỷ lệ đầu tư hàng năm của ngành đóng tàu Hàn quốc ngày càng lớn để bắt kịp với nhu cầu đóng tàu. Năm 2008, tỷ lệ đầu tư đạt tới 10% tổng doanh số xuất khẩu

Thông tin trên quan trọng cho các nhà làm chính sách. Ngành đóng tàu không những cần vốn đầu tư ban đầu lớn mà còn cần một lượng vốn đầu tư hàng năm để tăng năng lực và năng suất.

Tại sao thế thì xem đặc điểm dưới đây.

3-Thị trường cạnh tranh cao

Thị trường đóng tàu là một thị trường có tính cạnh tranh cao. Tương đối dễ vào nhưng lại khó rút chân ra vì vốn đầu tư ban đầu lớn nhưng tài sản cố định không có giá trị còn lại (no residual value of fixed assets). Ngoài ra, người mua tàu có nhu cầu giống nhau với một số kiểu tàu, nhưng người đóng tàu lại có thể chào nhiều tàu cùng kiểu nhưng khác nhau về chất lượng và tính năng.

Mặt khác, thị trường đóng tàu có đặc điểm của một thị trường cạnh tranh đầy đủ vì có nhiều người bán và người mua là người quyết định giá. Ví dụ, tàu hàng rời và tàu dầu đã được tiêu chuẩn hóa đến mức mà người đóng tàu không thể thay đổi giá được.

Thị trường đóng tàu cũng là thị trường toàn cầu có thông tin đối xứng (đầy đủ cả từ người bán và người mua?). Các chủ tàu có thể đặt đóng tàu ở bất kỳ đâu trên thế giới cho giá tốt nhất và do đó giá tàu sẽ có một mặt bằng nào đó. Vì vậy nếu người đóng tàu chào giá cao hơn nhiều so với giá mặt bằng sẽ bị hất ra khỏi thị trường.

Câu “Tương đối dễ vào …tài sản không có giá trị còn lại” hơi khó hiểu. Một tài sản cố định, sau khi khấu hao hàng năm, nếu chưa hết thời kỳ khấu hao sẽ có một giá trị còn lại nào đó. Khi muốn rút ra khỏi thị trường, bán tài sản sẽ thu được phần giá trị còn lại đó.

Xem giải thích câu này ở đặc điểm cuối cùng dưới đây.

4- Chu kỳ sản xuất dài

Một hợp đồng đóng tàu thường cần hơn hai năm từ lúc ký đến lúc giao tàu. Do thời gian dài như vậy nên người đóng tàu đối mặt với một số rủi ro.

Thứ nhất, rủi ro về giá thép và giá trang thiết bị lên xuống, trong khi chi phí thép chiếm hơn 15%, chi phí máy móc trang thiết bị chiếm hơn 50% giá thành tàu. Thường phải mất hơn 1 năm kể từ khi ký hợp đồng đóng tàu mới bắt đầu cắt tôn được.

Ngoài ra, người đóng tàu chịu rủi ro do tiền đóng tàu được thanh toán theo kiểu trả chậm. Thường thì trong 5 mốc của quá trình đóng tàu (ký hợp đồng, cắt tôn, đặt ky, hạ thủy, bàn giao), mỗi lần được thanh toán 20%. Tiền đóng tàu thường được tính theo USD. Nếu giá trị USD thay đổi, lợi nhuận của người đóng tàu có thể tan thành mây khói.”

Tóm lại, chu kỳ sản xuất dài kéo theo rủi ro rất lớn về tài chính, trong khi do cạnh tranh, lợi nhuận biên tế của đóng tàu rất mỏng. Nếu kỹ thuật, quản lý sản xuất đều tốt, nhưng quản lý tài chính kém, người đóng tàu vẫn có thể bị lỗ. Ảnh hưởng tài chính sẽ được phân tích kỹ hơn trong phần sau.

5- Giá tàu biến động lớn

Giá tàu biến động lớn không chỉ là một đặc điểm chính của ngành đóng tàu mà cũng là kết quả của tất cả các đặc điểm đã nói ở trên. Tuy nhiên, lý do chính có thể tóm tắt lại là cung khó thích ứng với cầu (inelastic supply in the short run). Do đó, thị trường đóng tàu đáp ứng với các biến động bằng cách điều chỉnh giá thay cho điều chỉnh sản lượng. Có mấy lý do:

Thứ nhất, cần ít nhất hai năm để bổ xung năng lực đóng tàu. Ngay cả nếu nhà máy khắc phục được các hạn chế về lao động và tài chính, cũng cần một thời gian dài để lên kế hoạch và xây dựng (mở rộng sản xuất).

Thứ hai, một công ty không dễ rút ra khỏi việc đóng tàu một khi đã bước vào. Tài sản cố định dành cho đóng tàu chuyên môn hóa nên khó sử dụng ngoài ngành. Giá trị sử dụng (một khi không dùng nữa bán đi) của các cần cẩu, máy hàn nhỏ hơn nhiều so với giá mua vào (vì khó dùng sang việc khác).

Lý do cuối cùng, nhà máy đóng tàu không thể điều chỉnh giảm sản lượng bằng cách tồn kho. Nếukhông có hợp đồng mới, phải ngừng sản xuất ngay lập tức.

Các ngành có đặc điểm cung dễ thích ứng với cầu (vd: da giầy, …), khi cầu tăng dễ nâng cao năng lực sản xuất để đáp ứng (đầu tư ít, thời gian mở rộng sản xuất ngắn, nhân công dễ tìm). Khi cầu giảm, nhà sản xuất đối phó bằng cách thu hẹp sản xuất, bán bớt năng lực sản xuất (máy móc, …) hoặc sản xuất nhưng cho tồn kho chờ thời cơ. Do đó, khi cầu tăng khó tăng giá và khi cầu giảm cũng có thể giữ giá không giảm nhiều. Giá biến động ít.

Ngành đóng tàu đầu tư lớn, lâu nên khi cầu tăng mở rộng sản xuất (xây thêm ụ, cầu tàu, …) vừa tốn tiền vừa lâu, lại khó tuyển thêm người. Thị trường đóng tàu là thị trường toàn cầu nên khi cầu giảm, bán bớt nhà máy trong ngành không có ai mua, bán ra ngoài thì giá rất thấp do tài sản không dùng ngoài ngành được. Đóng tàu cũng không phải ngành có thể làm hàng để tồn kho chờ cơ hội cầu hồi phục.

Do đó, khi cầu tăng các nhà máy đóng tàu có thể ép khách hàng, tăng giá tàu. Ngược lại, khi cầu giảm như hiện nay, giá tàu bắt buộc phải hạ rất nhiều mới ký được hợp đồng. Vì thế mới nói giá tàu biến động lớn. (xem phần phân tích chi tiết về giá ở dưới).

Ngoài ra, như đã nói ở trên, đã đầu tư vào ngành đóng tàu rất khó rút chân ra mà không bị thiệt hại lớn. Vì vậy một trong những mục tiêu đề ra của chủ đầu tư là hoàn vốn nhanh nhất có thể. Khi mức cầu giảm, nhà máy đóng tàu có thể chấp nhận hạ giá đến mức chịu lỗ để khai thác hết năng lực đóng tàu bị dư thừa và do đó khấu hao được để góp phần hoàn vốn.

Kết luận: các đặc điểm trên cho thấy ngành đóng tàu là một ngành khá khó khăn. Tổng hợp lại, nó còn một đặc điểm cơ bản, xuyên suốt quá trình lịch sử “ngành đóng tàu là một ngành phát triển không bền vững”.

Thực tế lịch sử cho thấy điều đó. Các ngành đóng tàu Anh, Mỹ, châu Âu nói chung, Nhật, Hàn quốc đều trải qua giai đoạn phát triển huy hoàng, đứng đầu thế giới rồi sau đó đều bị chèn ép, mất thị trường, rơi vào hoàn cảnh khó khăn mà lại không bỏ được.

Vì vậy, chỉ đạo phát triển ngành đóng tàu, xác định đúng quy mô và đường đi nước bước cho nó là một công việc không đơn giản. Chủ động điều chỉnh được như chính phủ Nhật đã làm là một thành tựu xuất sắc.

Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả của ngành đóng tàu

(còn tiếp)

2 thoughts on “Đọc một luận án (tiếp): Các đặc điểm chính của ngành đóng tàu.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s