“Tái cơ cấu” ngành đóng tàu Mỹ

Trong thời kỳ chiến tranh lạnh (1945 – 1991) ngành công nghiệp đóng tàu Mỹ là một trong những ngành đóng tàu mạnh nhất thế giới về các mặt:

  • Trình độ công nghệ: đã đóng được các con tàu phức tạp và hiện đại nhất thế giới: tàu sân bay, tàu ngầm nguyên tử chiến lược mang đầu đạn hạt nhân, tàu đổ bộ đệm khí v.v….
  • Trình độ quản lý sản xuất: theo kiểu Mỹ với việc áp dụng rộng rãi “công nghiệp phụ trợ” của quản lý là công nghệ thông tin.
  • “Nội địa hóa” được 100% từ thiết kế, vật tư, máy móc thiết bị đến nhân công kỹ thuật cao.
  • Hạ tầng cơ sở: 6 nhà máy đóng tàu quân sự lớn nhất của Mỹ cho đến nay vẫn là các nhà máy lớn nhất.

Tóm lại khó mà có thể chê được nó ở điểm nào.

Tuy nhiên, dùng một khái niệm trong một bài viết trước, ngành công nghiệp đóng tàu Mỹ cũng là một ngành công nghiệp “nội”, độc quyền và được bao cấp: chủ tàu là bộ Quốc phòng với dự án đóng một hạm đội khổng lồ 600 tàu chiến, tiền đóng tàu chi từ ngân sách. Hầu như không tham gia thị trường đóng tàu thương mại thế giới.

Độc quyền, bao cấp là một liều ma túy ngọt ngào tàn phá cơ thể người sử dụng nó. Khi chiến tranh lạnh kết thúc vào năm 1991, ngân sách quốc phòng bị cắt giảm mạnh, dự án đóng 600 tàu bị bỏ, ngành đóng tàu Mỹ lâm vào khủng hoảng trầm trọng, bộc lộ hết các điểm yếu của nó về năng lực cạnh tranh cũng như thị trường:

  • Các hợp đồng đóng tàu chiến giảm mạnh. Giữa những năm 70, order book khoảng 150 tàu/năm, đến 1996 chỉ còn 50 tàu/năm và dự kiến còn giảm nữa. Các nhà máy đóng tàu Mỹ buộc phải quay ra tìm kiếm các hợp đồng trong thị trường đóng tàu thương mại thế giới, điều mà trước đây họ không cần làm.
  • Khả năng cạnh tranh trên thị trường đóng tàu thương mại thế giới rất thấp: năng suất thấp hơn 2-3 lần so với nước ngoài và chi phí vật tư cao (từ 33-50% so với nước ngoài). Do đó cho đến năm 1998, ngành đóng tàu Mỹ chỉ còn chiếm dưới 1% thị trường đóng tàu thương mại thế giới, xếp thứ 23 trong ngành đóng tàu và khả năng sắp tới là không có hợp đồng với các chủ tàu nước ngoài.
  • Ngay tại trong nước, mặc dù được bảo hộ bởi luật John Act, một đạo luật na ná như một quyết định của chúng ta: không được mua tàu nước ngoài, nhưng các chủ tàu Mỹ cũng không muốn đóng tàu tại Mỹ vì tiến độ lâu và giá thành cao.i
  • Do tình hình trên, nhiều nhà máy phải đóng cửa, sa thải nhân công. Năm 1990, 21 nhà máy đóng tàu Mỹ sử dụng khoảng 130.000 nhân công, đến năm 1996 chỉ còn 103.000 và dự kiến đến năm 2000 còn 50.000.

Tình hình đó cho thấy cạnh tranh trên thị trường đóng tàu thương mại thế giới để đóng tàu xuất khẩu được là khó khăn đến mức nào. Một ngành công nghiệp hiện đại, quản lý hiện đại , tài chính hùng mạnh mà cũng không cạnh tranh nổi. Đây là một lời cảnh báo nghiêm khắc cho những cái đầu nóng muốn đưa ngành đóng tàu Việt nam lên hạng gì gì đó trên bản đồ đóng tàu thế giới. Tuy Mỹ thất bại nhưng Hàn quốc, Trung quốc làm được và chúng ta cũng có thể làm được nếu…. nhiều thứ không như bây giờ, đặc biệt là con người, yếu tố then chốt đảm bảo mọi thành công và cả …. thất bại (như bài học Vinashin “cũ” đã cho thấy).

Trước tình hình đó, chính phủ Mỹ kết hợp với các công ty đóng tàu tư nhân phát triển một chương trình dài hạn 5 năm với tổng số tiền khoảng 500 triệu USD để nâng cấp ngành đóng tàu Mỹ nhằm:

  • Giảm chi phí và rút ngắn tiến độ đóng tàu chiến
  • Tạo sức mạnh cạnh tranh cho ngành đóng tàu Mỹ trên thị trường đóng tàu thương mại thế giới.

Chương trình này là chương trình nghiên cứu và ứng dụng thuần túy kỹ thuật. Nó là nòng cốt, nội dung cơ bản cho quá trình tái cơ cấu ngành đóng tàu Mỹ. Các nhà máy đóng tàu áp dụng kết quả của chương trình để tự tái cơ cấu.

Cho đến nay chương trình này vẫn còn đang tiến hành. Mọi thông tin chi tiết xem tại http://www.nsrp.org. Có điều lạ là gần đây site này hình như chặn các địa chỉ IP Vietnam, trước đây thì không. Tôi phải dùng Tor browser mới vào được.

File giới thiệu chương trình đó có thể tải về tại đây. File này được đưa lên website Vinashin vào ngày 7/3/2005. Hiện nay theo tôi nó còn nguyên tính thời sự. Đây là một bài học lớn cần tìm hiểu nếu muốn tái cơ cấu Vinashin thành công.

Còn một bài học nữa tôi sẽ giới thiệu sau.

Tài liệu tham khảo:

1- SHIPBUILDING SUPPLY CHAIN INTEGRATION PROJECT Final Report

2- 1996 – 2010  Shipbuiilding Industry Study  The Industrial College of the Armed Forces National Defense University Fort McNair Washington, DC 20319-5062

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s